Bệnh tiểu đường, mỡ máu

Tổng quan bệnh mỡ máu

Bệnh mỡ máu hay còn gọi là máu nhiễm mỡ là do sự xáo trộn các chất mỡ trong máu hoặc quá nhiều hay quá ít các chất lipoprotein. Biểu hiện bệnh thường thông qua độ tăng cholesterol trong máu, dễ gây lên các bệnh tim mạch, cao huyết áp, xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim… có thể dẫn đến đột quỵ, tàn phế hoặc tử vong.

Tổng quan bệnh mỡ máu 1

1. Cholesterol là gì?

Cholesterol là một chất béo steroid, có ở màng tế bào của tất cả các mô trong cơ thể. Hầu hết cholesterol không có nguồn gốc từ thức ăn mà nó được tổng hợp từ bên trong cơ thể. Mỗi ngày cơ thể con người (nhất là gan) sản xuất ra khoảng 1g cholesterol, phần lớn cholesterol được tổng từ các loại thức ăn như lòng đỏ trứng gà, thịt, cá, đồ biển, sữa nguyên chất. Các loại trái cây, rau cải,đậu, hạt không có cholesterol.

Cholesterol là một phần quan trọng của cơ thể, được dùng trong cấu tạo của màng tế bào, của một số hormone và một số các công dụng khác trong cơ thể. Nhưng có quá nhiều cholesterol trong máu là một nguy cơ lớn, có khả năng gây bệnh về tim mạch, nhất là nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não.

2. Nguyên nhân gây bệnh mỡ máu

Bệnh mỡ máu chủ yếu là do cholesterol và triglyceride tăng cao.

Theo thống kê, khoảng 20% cholesterol là do những thức ăn như thịt, mỡ, trứng và 80% do gan tổng hợp từ những chất khác như đường, đạm. Điều này lý giải tại sao những người gầy, ăn ít mỡ, trứng vẫn bị mỡ trong máu.

Triglyceride cũng là do thức ăn mang lại, nhưng với người khỏe mạnh, sau 12h tất cả các triglyceride này sẽ được cơ thể chuyển hóa.

Lười vận động, béo phì và chế độ ăn không lành mạnh góp phần làm tăng LDL cholesterol “xấu” và làm giảm HDL cholesterol “tốt”.

Cơ địa di truyền khiến tế bào không loại bỏ được LDL cholesterol ra khỏi máu hoặc khiến gan sản sinh quá nhiều cholesterol.

3. Triệu chứng bệnh mỡ máu

Da có những nốt phồng nhỏ bề mặt bóng loáng, màu vàng, mọc nhiều trên da mắt, khuỷu tay, bắp đùi, gót chân; da lưng, ngực, cổ tay, cánh tay xuất hiện các nốt như sởi, mềm, to bằng đầu ngón tay, màu vàng nhạt, không đau, không ngứa; kẽ ngón tay chuyển thành màu vàng; bắp chuối chân bị chuột rút và có cảm giác đau như kim châm; có những nốt vàng trên mi mắt, lúc đầu nhỏ, hơi nhô cao sau đó có thể nổi đầy cả mi mắt.

Khi bệnh tình phát triển nặng, có thể xuất hiện các triệu chứng như đầu choáng, mắt hoa, bứt rứt trong người, thở ngắn hơi, tim hồi hộp, mất sức dần, tay chân thấy tê dại… Cơ thể mập phì, xét nghiệm máu có các chỉ số cho biết mỡ máu tăng hơn mức bình thường.

4. Chỉ số mỡ máu

Các chỉ số sau chứng tỏ bị bệnh mỡ máu:

  • Cholesterol toàn phần: ≥ 240mg/dL .
  • LDL cholesterol: ≥ 160mg/dL.
  • HDL cholesterol: ≤ 40mg/dL.
  • Triglycerides:≥ 200mg/dL

Để có kết quả chính xác, không nên ăn hoặc uống bất kỳ thứ gì (trừ nước) trong 9 – 12 tiếng trước khi lấy mẫu máu.

5. Phòng chống bệnh mỡ máu

Chế độ ăn uống nhiều chất xơ, hoa quả rất tốt cho việc phòng chống mỡ máu bởi những loại thức ăn này có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong máu. Hơn nữa hoa quả vẩu xanh còn có thể giúp cơ thể bổ sung chất lipit thay thế lipit trong thịt.

Trong cơ cấu bữa ăn mỗi tuần, nên tăng món cá lên 3 lần/tuần, giảm món thịt. Nếu ăn thịt, hãy chọn những loại thịt chứa ít cholesterol như thịt bê, thịt ngựa hoặc thịt da cầm không da. Trong quá trình chế biến thực phẩm, các bà nội trợ nên sử dụng dầu thực vật thay cho mỡ động vật để làm giảm nguy cơ mắc bệnh. Với người bị bệnh mỡ máu cao, cần tránh xa các món ăn ngọt, nhiều dầu mỡ như: bánh quy, phô mai…

Cùng với sự thay đổi trong thói quen ăn uống, để phòng tránh và điều trị bệnh mỡ máu cao, cần có sự thay đổi trong nếp sống và sinh hoạt. Hãy nói không với các sản phẩm chứa chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá bởi chúng sẽ làm tăng tỉ lệ đường trong máu và cholesterol trong huyết, đồng thời làm giảm cholesterol có lợi. Tăng cường các hoạt động thể dục, thể chất cũng là việc làm cần thiết để chống lại bệnh tật. Người bị bệnh mỡ máu cao thích hợp với các bài tập nhẹ nhàng như: đi bộ, leo cầu thang, bơi…

6. Điều trị bệnh mỡ máu

Thuốc làm hạ cholesterol thường có 4 nhóm chính, nhưng thường dùng nhất là nhóm fibrat và statin.

Nhóm fibrat: biệt dược thông dụng là lypanthyl (viên 100mg, 300mg), làm giảm loại cholesterol có hại, tăng cholesterol có lợi, lập lại cân bằng bình thường về hai loại này. Nhờ thế làm giảm hẳn lượng cholesterol trong máu (nếu dùng lâu dài) và từ đó làm giảm nguy cơ xơ mỡ động mạch.

Tuy nhiên thuốc loại này thường làm tổn thương cơ (thường xảy ra hơn đối với người bị đau cơ lan tỏa), ảnh hưởng xấu đến thận và gan (làm tăng chỉ số transaminnaza). Vì thế không được dùng cho người suy gan thận, với người bình thường khi dùng cũng phải định kỳ kiểm tra chức năng gan (đo chỉ số transaminaza).

Nhóm statin: Biệt dược thông dụng là lescol (viên 20mg). So với nhóm trên, thì nhóm này làm giảm cholesterol có hại và tăng cholesterol có lợi với mức mạnh hơn, do đó ngăn ngừa tốt hơn nguy cơ xơ mỡ động mạch và một số bệnh tim khác.

Một ưu điểm khác là thuốc được hấp thu nhanh và hoàn toàn (khoảng 98%). Thuốc có những tác dụng độc như nhóm trên nên cũng có khuyến cáo tương tự. Ngoài ra chưa có các thông tin đầy đủ cho trẻ dưới 18 tuổi nên không nên dùng cho đối tượng này.

Nhóm niacin: biệt dược thông dụng niacin (viên nén 5, 50, 100, 150 và 500mg, ống tiêm 1ml chứa 0,17% niacin). Thuốc làm giãn nở các động mạch nhỏ, mao mạch, giảm cholesterol máu. Thường dùng phối hợp với nhóm statin.

Cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ có thai,