Phòng ngừa và điều trị bệnh ung thư

Phương pháp điều trị hiệu quả ung thư nội mạc tử cung

Ung thư nội mạc tử cung (ung thư tử cung) là căn bệnh thường gặp ở chị em phụ nữ, ngày nay đang có dấu hiệu ngày càng tăng. Những phương pháp dưới đây giúp điều trị hiệu quả , đem lại niềm hy vọng cho bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung.

Phương pháp điều trị hiệu quả ung thư nội mạc tử cung 1

Mỗi năm, trên thế giới có hơn 20 vạn người mắc mới ung thư nội mạc tử cung, tỉ lệ tử vong vì căn bệnh này đứng thứ 3 trong các bệnh ung thư ở phụ nữ (sau ung thư buồng trứngung thư cổ tử cung).

Những bệnh nhân mắc ung thư nội mạc tử cung thường bị vô sinh bởi vì gây ra hiện tượng dính xương chậu, tắc ống dẫn trứng dẫn tới phát triển nang trứng kém hoặc rối loạn rụng trứng và các nguyên nhân khác. Khi ung thư nội mạc tử cung ở giai đoạn muộn, khối u xâm lấn tới tổ chức xung quanh hoặc chèn ép thần kinh dẫn tới đau bụng dưới và thắt lưng, tê chân…khiến bệnh nhân thiếu máu, sụt cân, sốt và toàn thân suy kiệt… Nếu phát hiện ung thư nội mạc tử cung mà không kịp thời điều trị có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.

1. Chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung

Nếu một phụ nữ có những biểu hiện gợi ý đến ung thư nội mạc tử cung như chảy máu sau mãn kinh, chảy máu giữa chu kỳ kinh, có những bất thường chảy ra từ âm đạo, đau vùng chậu, đau khi giao hợp, giảm cân ngoài ý muốn… bác sỹ sẽ khám xét cẩn thận và có thể yêu cầu làm xét nghiệm kiểm tra máu và nước tiểu. Các xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung bao gồm:

điều trị ung thư nội mạc tử cung

Khám tiểu trung để kiểm tra âm đạo, tử cung, bàng quang và trực tràng. Bác sỹ có thể sờ nắn để phát hiện khối u hoặc thay đổi về hình dạng, kích thước nếu có. Để có thể quan sát phần trên của âm đạo và cổ tử cung, bác sỹ sẽ đưa một dụng cụ gọi là mỏ vịt vào trong âm đạo.

Siêu âm qua đường âm đạo : Bác sỹ đưa một dụng cụ vào trong âm đạo, dụng cụ này phát ra sóng siêu âm hướng về phía tử cung, sau khi đi qua các cơ quan, sóng siêu âm dội trở lại và tạo hình ảnh được ghi lại trên máy. Nếu phát hiện lớp nội mạc tử cung dầy, bác sỹ có thể sẽ bấm sinh thiết.

Sinh thiết : là thủ thuật lấy ra một mẫu tổ chức nội mạc tử cung để làm xét nghiệm giải phẫu bệnh lý để tìm tế bào ung thư, quá sản hay các bệnh khác. Trong một số trường hợp, bác sỹ phải tiến hành nạo buồng tử cung. Việc nạo buồng tử cung phải thực hiện dưới gây mê và sẽ gây chảy máu đôi chút.

Xếp giai đoạn

Sau khi đã chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung, bác sỹ cần phải đánh giá xem giai đoạn bệnh để có thể lập kế hoạch điều trị. Đây là quá trình xem xét cẩn thận xem bệnh có lan tràn đến cơ quan khác hay không, và nếu có thì là cơ quan nào. Bác sỹ có thể yêu cầu làm các xét nghiệm máu, nước tiểu, chụp phim X quang, soi trực tràng…

Bệnh được chia làm 4 giai đoạn tuỳ thuộc vào mức độ lan tràn của tế bào ung thư.

2. Điều trị ung thư nội mạc tử cung

2. Điều trị ung thư nội mạc tử cung 1

Khi được chẩn đoán là ung thư nội mạc tử cung, người bệnh thường lo sợ, mất bình tĩnh và bối rối, bên cạnh đó kế hoạch điều trị lại phức tạp, vì vậy khi trao đổi với bác sỹ về kế hoạch điều trị nên có phương tiện để ghi lại những ý kiến của bác sỹ hoặc có người thân đi cùng.

Để điều trị ung thư nội mạc tử cung, các bác sỹ thường áp dụng các phương pháp phẫu thuật, xạ trị và hóa trị. Đại đa số bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung đều phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm nên hầu hết phẫu thuật là phương pháp thường được sử dụng trong điều trị bệnh.

  • Giai đoạn 1 : cắt tử cung toàn phần, lấy hạch dọc tĩnh mạch, nếu hạch xâm nhiễm thì xạ trị ngoài. U biệt hoá cao thì bổ sung nội tiết.
  • Giai đoạn 2 : tia xạ tại chỗ và phẫu thuật cắt tử cung toàn phần rộng rãi và lấy hạch. Sau 4-6 tuần thì tia xạ ngoài nếu hạch xâm nhiễm.
  • Giai đoạn 3 : Nếu mổ được thì cắt bỏ và xạ trị, nếu không thì xạ trị bằng kim radium đặt tại chỗ và hormon liệu pháp kết hợp (thực hiện tại chuyên khoa ung thư).
  • Giai đoạn 4 : Điều trị triệu chứng bằng progestatif. Trong trường hợp tái phát ở mỏm cắt âm đạo thì đặt kim Radium.

Phẫu thuật ung thư nội mạc tử cung

Phẫu thuật điều trị ung thư nội mạc tử cung gồm cắt bỏ tử cung, cắt bỏ buồng trứng và vòi trứng hai bên, lấy đi các hạch bạch huyết để kiểm tra xem ung thư đã lan đến hạch hay chưa. Nếu ung thư chỉ giới hạn ở lớp nội mạc tử cung, bệnh nhân sẽ không cần điều trị gì thêm.

Bệnh nhân thường đau và cảm giác rất mệt mỏi sau phẫu thuật. Thời gian để phục hồi thường kéo dài 4-8 tuần sau phẫu thuật. Một số bệnh nhân sẽ xuất hiện buồn nôn, nôn hay các biểu hiện về tiêu hoá khác. Cần tuân thủ chế độ ăn chuyển dần từ lỏng sang đặc.

Do mổ cắt tử cung và buồng trứng 2 bên nên bệnh nhân sẽ không còn kinh nguyệt, không có khả năng có thai và có các biểu hiện của mãn kinh. Tuy nhiên không nên dùng nội tiết tố thay thế để điều chỉnh các triệu chứng của mãn kinh vì như trên đã nêu, đây là 1 yếu tố nguy cơ.

Xạ trị ung thư nội mạc tử cung

Xạ trị là phương pháp sử dụng các chùm tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Giống như phẫu thuật, đây là phương pháp điều trị tại chỗ nghĩa là chỉ tác động đến những tế bào ở trong vùng điều trị. Có 2 hình thức xạ trị:

Xạ ngoài : sử dụng một máy phát tia lớn ở ngoài cơ thể để chiếu tia vào vùng điều trị. Bệnh nhân thường được điều trị 5 ngày mỗi tuần trong vòng vài tháng. Có thể bệnh nhân chỉ cần điều trị ngoại trú mà không phải nằm viện.

Xạ trong : sử dụng một ống nhỏ chứa chất phóng xạ đưa vào âm đạo và lưu ở đó trong vài ngày. Bệnh nhân sẽ phải nằm viện và hạn chế sự thăm viếng trong những ngày điều trị.

Các tác dụng phụ tuỳ thuộc vào liều xạ và vùng được chiếu xạ. Các biểu hiện thông thường là đỏ da, khô da, rụng lông vùng chiếu xạ, chán ăn và mệt mỏi. Một số bệnh nhân có biểu hiện khô, kích thích nóng rát âm đạo. Tia xạ cũng có thể gây nên một số rối loạn về đại, tiểu tiện.

Hóa trị liệu

Hóa trị là sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Thông thường, các loại thuốc hóa trị được sử dụng kết hợp để tăng hiệu quả của họ. Nói chung, phụ nữ có giai đoạn III hoặc ung thư nội mạc tử cung giai đoạn IV sẽ được hóa trị như là một phần của phác đồ điều trị của họ. Có thể nhận được thuốc hóa trị bằng thuốc (uống) hoặc thông qua các tĩnh mạch. Các thuốc này nhập vào máu và sau đó đi qua cơ thể, làm chết tế bào ung thư bên ngoài tử cung.

Liệu pháp can thiệp mạch cục bộ

Nhằm mục đích nhắm vào khối u trong cơ thể bệnh nhân và tiến hành nút động mạch chủ cung cấp máu, khiến khối u mất máu và bị “bỏ đói”, trong cùng thời gian nút mạch, thuốc kháng u sẽ được tiêm vào khối u, thuốc nút mạch và hóa chất tương trợ với nhau, không những chặn đứng nguồn cung cấp máu, mà còn phát huy tác dụng của hóa chất cục bộ, mà không gây phản ứng phụ của hóa chất toàn thân. Tùy vào tình trạng của bệnh nhân để tiếp tụ c cấy hạt phóng xạ, đưa ra phác đồ về số lượng, vị trí cấy hạt phóng xạ, thông qua sự hướng dẫn của máy CT, các hạt phóng xạ được đưa vào trong khối u, các hạt phóng xạ sẽ liên tục phát ra tia γ, xạ ngay trong khối u, không gây tổn thương các mô bình thường.

Trong thời gian điều trị, còn có thể áp dụng thêm điều trị đông y, giúp nâng cao hệ miễn dịch, tăng cường thể chất, giúp hiệu quả điều trị được nâng cao hơn.

Điều trị nội tiết

Điều trị nội tiết là phương pháp dùng các thuốc để ngăn chặn các tế bào ung thư tiếp xúc với các nội tiết tố mà chúng cần có để phát triển. Trước khi điều trị nội tiết, bác sỹ sẽ yêu cầu làm xét nghiệm về nội tiết để biết được bệnh nhân có khả năng đáp ứng với phương pháp điều trị này hay không. Đây là phương pháp điều trị toàn thân. Thuốc thường dùng có tên là progesteron, dạng viên. Điều trị nội tiết có thể được chỉ định cho những bệnh nhân không mổ được, đã di căn hoặc tái phát sau điều trị.

Theo dõi sau điều trị

Theo dõi sau điều trị là rất quan trọng trong điêù trị ung thư nói chung và ung thư nội mạc tử cung nói riêng. Nó giúp cho việc phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề mới phát sinh. Mỗi lần đến kiểm tra, bệnh nhân sẽ được khám lâm sàng bao gồm cả thăm khám khung chậu, chụp phim X quang và làm các xét nghiệm khác.

Lê An

Theo dõi sau điều trị 1
Có thể bạn quan tâm:

Ý kiến của bạn

Glucankiddy tăng sức đề kháng kích thích ăn ngon

Artrex xua tan nỗi lo bệnh khớp
0